Ôn Chuyện Cũ - Hướng về Tương Lai Mới: Tiễn Đưa Năm 2020



Ngày cuối cùng của năm 2020, một năm đầy biến động cho nước Mỹ và toàn thế giới.

Quê hương thứ hai của chúng ta cũng trong ngưỡng cửa mất đi chính nghĩa - như nước Việt Nam Cộng Hòa thân yêu của chúng ta vào tháng tư đen năm 1975.

Ôn Cố - Tri Tân ...

Xin kính mời quý thân hữu và độc giả đọc bài viết của anh Phạm Đỗ Chí, Founder của TAPA - để hồi tưởng và ngậm ngùi cho tổ quốc Việt Nam xưa cũ.

Kính chúc quý vị một ngày cuối năm êm đềm bên người thân và hy vọng năm mới sẽ mang lại cho chúng ta những điều may mắn cát tường.

Nguyện cho tất cả đều khỏe mạnh, bình yên, và hạnh phúc trong chánh niệm.


TAPA


***********************************************************************************


NHÌN LẠI 50 NĂM
TỪ 1970, VNCH ĐÃ DÙNG LẠM PHÁT ĐỂ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CÔNG RA SAO?

Chiến tranh Việt Nam đã thu hút một lượng lớn nghiên cứu và tài liệu về tiến trình của nó, đặc biệt là các khía cạnh quân sự và chính trị, nhưng có rất ít công trình được công bố về nền kinh tế của miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa—VNCH). Người ta có thể tự hỏi làm thế nào mà nền kinh tế của nó tồn tại khá vững dưới một cuộc xung đột kéo dài như vậy từ 1955, nhất là với sự hiện diện của hơn nửa triu quân Mỹ kể từ năm 1965, cho đến ngày VNCH sụp đổ với chiến thắng của miền Bắc vào tháng 4/1975.

 

Bài học quá khứ thú vị ở chỗ trong khung cảnh ngắn ngủi của hai thập niên 1955-1975, với một nền dân chủ pháp trị còn phôi thai của VNCH, quốc gia nhỏ bé với 20 triệu dân miền Nam VN đã đào tạo một giới chuyên gia kỹ trị biết dùng các chính sách kinh tế vĩ mô hiện đại để tạo dựng một nền kinh tế nông nghiệp trù phú trong thời gian đầu của Đệ Nhất Cộng hòa (1955-1963), rồi nền kinh tế Đệ Nhị Cộng hòa  tương đối ổn định trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt (1965-1975) từ miền Bắc VN.

 

Bài nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh quan trọng của xã hội và nền kinh tế VNCH trong giai đoạn 1965-1975 phải tài trợ cho gánh nặng quốc phòng ở một quốc gia trải qua chiến tranh liên tục trong hai thập niên. Điều này rất hữu ích để hiểu rõ hơn về hoạch định chính sách kinh tế trong thời chiến và ở một nước nghèo đang phát triển.

Có 4 bước ngoặt  trong giai đoạn này:

•           Năm 1955 là năm chấm dứt nền quân chủ lập hiến ở miền Nam VN dưới Vua Bảo Đại và thiết lập Đệ Nhất Cộng hòa dưới Tổng thống Ngô Đình Diệm (sau này đã mất trong cuộc chính biến tại Sài gòn ngày 2/11/1963).

•           Nền Đệ Nhị Cộng hòa bắt đầu từ đó cho tới tháng 4/1975. Nhưng với bước ngoặt vào năm 1960 là năm thành lập chính thức cánh tay nối dài của đảng Cộng sản Bắc Việt, ‟Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam”.

•           Một bước ngoặt khác vào năm 1965, năm quân đội Hoa Kỳ bắt đầu ồ ạt đổ vào miền Nam Việt Nam và là năm bắt đầu một thời kỳ mới với chiến sự quy mô lớn.

•           Năm 1972, một năm trước khi thỏa thuận hòa bình Paris đạt được vào tháng 1 năm 1973. Nó đánh dấu thời điểm rút quân hoàn toàn của Hoa Kỳ. Sau đó là chiến thắng của quân đội miền Bắc VN vào tháng 4/1975.

 

Do đó, nền kinh tế VNCH trải qua hai giai đoạn khác biệt tương ứng với hai thời kỳ khác nhau trong cuộc chiến tranh vừa qua : thời kỳ 1955-1964 với sự ổn định giá cả tương đối và đôi chút tăng trưởng kinh tế, trong khi thời kỳ 1965-1975 khác hẳn với lạm phát cao và đình trệ tăng trưởng.

.

Chúng ta sẽ chú ý nhiều hơn giai đoạn thứ hai với các chính sách kinh tế vĩ mô tương đối thành công của VNCH, để lại nhiều di sản chính sách quí báu cho nước Việt Nam (VN) thống nhất sau này.

 

VNCH đã ổn định nền tài chính công ra sao?

Vấn đề cơ bản của nền kinh tế thời chiến của miền Nam Việt Nam là việc tài trợ thâm hụt ngân sách của chính phủ trong các năm 1965-1975, đã liên tục tăng nhanh do chi tiêu quân sự. Mặc dù một phần thâm hụt này được chi trả bởi viện trợ của Hoa Kỳ, phần tài trợ còn lại đến từ "các khoản tạm ứng" của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam dành cho ngân sách trung ương. Nguồn cung tiền tệ để tài trợ ngân sách là nguyên do chính gây lạm phát nhanh chóng trong giai đoạn này.

Do đó, tài chính công qua lạm phát là một phương tiện để chuyển các nguồn lực từ sử dụng tư nhân sang khu vực chính phủ. Tuy nhiên, việc sử dụng tài chính lạm phát cũng bị hạn chế bởi một cân nhắc rất quan trọng : lạm phát phải được hạn chế ở mức hợp lý để tránh hợp lạm phát phi mã. Nếu không, sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ sẽ là một thảm họa trong bối cảnh chiến tranh chính trị lúc bấy giờ. Đặc điểm nổi bật là sự đình trệ của sản xuất trong nước, do chiến cuộc đã hạn chế nghiêm trọng nỗ lực phát triển của đất nước và huy động phần quan trọng của lực lượng lao động vào lực lượng vũ trang.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là lạm phát ở miền Nam Việt Nam đã không biến thành lạm phát phi mã, do một số yếu tố đặc biệt được xét đến dưới đây.

Yếu tố lớn chi phối bức tranh kinh tế lúc đó là vai trò của viện trợ kinh tế từ Mỹ. Viện trợ này thực sự rất quan trọng trong vai trò kép của nó là tiếp tế nguồn cung cho kinh tế của VNCH và hỗ trợ thâm hụt ngân sách. Yếu tố lớn thứ hai là tâm lý dân chúng thời chiến thích giữ tiền mặt để chạy loạn, khiến vận tốc di chuyển của khối tiền được tương đối ổn định. Sau hết, chính phủ VNCH đã cho áp dụng một số chính sách ổn định qui mô từ năm 1970.

Chúng ta thử đi sâu vào các vấn đề sau đây như bài học kinh tế trong thời chiến Việt Nam :

•           Vấn đề đầu tiên là trong hoàn cảnh nào lạm phát đã được sử dụng?  Và hiệu quả ra sao?

•           Khó khăn về chính sách thời chiến: tình thế lưỡng nan được đề cập giữa tài trợ tài chính công thâm hụt và nguy cơ lạm phát phi mã.    

•           Hàm ý chính sách đối với các nước đang phát triển khác: Có thể áp dụng lạm phát tài chính một cách kéo dài? Hay cần thêm các biện pháp vĩ mô ổn định trong trường hợp VNCH bấy giờ và cho VN thống nhất sau này?

 

Hệ thống thuế yếu kém

Việc sử dụng tài chính lạm phát là kết quả của một hệ thống tài khóa yếu kém, phổ biến ở các nước đang phát triển nhưng cũng do điều kiện chiến tranh ở Nam Việt Nam. Việc thiếu an ninh và những trở ngại trong nền kinh tế thời chiến đã thu hẹp cơ sở thuế và làm việc thu thuế vô cùng khó khăn. Vì nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là nông nghiệp với 70 phần trăm dân số làm nghề nông, nhưng đóng góp của ngành này vào tổng doanh thu thuế lại không đáng kể. Điều này được gây ra do có một hệ thống thuế kép ở nông thôn nơi nhân viên chính phủ và viên chức cộng sản cạnh tranh thu thuế.

Do đó, hầu hết các khoản thu của chính phủ đến từ các loại thuế gián tiếp, đặc biệt là thuế đối với hàng nhập khẩu  (phụ thuộc nhiều vào viện trợ của Hoa kỳ). Do đó, các

khoản thu của chính phủ bị hạn chế trong khi các khoản chi tiêu ngày càng tăng. Khả năng vay mượn từ công chúng là ít ỏi. Vì vậy, việc cân bằng thâm hụt tài chính bằng cách sử dụng lạm phát dường như là không thể tránh khỏi.

 

Tài trợ thâm hụt ra sao?

Tài trợ thâm hụt ngân sách của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là một nguồn gia tăng tiền tệ chính. Một nguồn khác là việc Ngân hàng bán tiền nội địa cho nhân viên quân sự và dân sự Hoa Kỳ. Hai nguồn này làm tăng cung tiền và là động lực của lạm phát.

Trong khi mối quan hệ dài hạn giữa tiền và giá cả được quan sát, áp lực cầu lại tăng thêm bởi các yếu tố ngắn hạn như chi phí nhập khẩu tăng và tiền lương. Cái trước liên quan chủ yếu đến sự phá giá liên tục của tiền “Đồng” và cái sau là do hành động của chính phủ để bảo vệ mức lương của công nhân và nhất là giới quân nhân.

Tuy nhiên, do thâm hụt ngân sách dẫn đến mở rộng tiền tệ và tỷ lệ lạm phát cao hơn, sự nhầm lẫn chính sách giữa lương tăng thường xuyên và đạt mức lương cao gây ra thực tế ảnh hưởng xấu đến vị thế kinh tế "thực sự" (“real pockets”) của người lính: lạm phát tăng nhanh hơn mức lương, kết quả là sự xói mòn dần tiền lương của họ. Điều này dường như đã tác động sâu rộng đến tinh thần của bộ máy công chức và lực lượng vũ trang khổng lồ của Nam Việt Nam.

Trong suốt thời kỳ, tài chính lạm phát đã hoạt động và tài trợ thành công thâm hụt ngân sách.

 

Tại sao VNCH tránh được lạm phát phi mã?

Sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ đã tránh được và không có lạm phát phi mã (hyper-inflation”). Có ba cách giải thích chính:

 

•           Viện trợ của Hoa Kỳ giúp chương trình nhập khẩu ồ ạt:

Đây là yếu tố quan trọng nhất trong việc ngăn chặn nền kinh tế Nam Việt Nam đi vào lạm phát phi mã. Nhập khẩu lớn chủ yếu được tài trợ bởi viện trợ của Hoa Kỳ làm tăng đáng kể sự sẵn có của hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ, mặc dù sản xuất trong nước chậm chạp. Sự đóng góp của các nguồn lực bên ngoài được ước tính là bằng gần một nửa tổng sản phẩm quốc gia của Việt Nam Cộng Hoà trong thời gian 1965-72.

Ngoài ra, hỗ trợ kinh tế của Hoa Kỳ phục vụ chức năng quan trọng thứ hai, đó là, hỗ trợ ngân sách Nam Việt Nam thông qua số tiền thu được từ Quỹ đối tác, đến từ việc bán hàng nhập khẩu do viện trợ Mỹ và thuế nhập khẩu. Tổng cộng, thuế trên viện trợ Mỹ được ước tính đã chi trả khoảng một nửa chi tiêu của chính phủ Nam Việt Nam trong cùng thời gian này.

Vai trò quan trọng của chương trình nhập khẩu cũng đưa ra lời giải thích cho một số khác biệt giữa các trường hợp của Nam Việt Nam (1965-72) và Hàn Quốc (1951-53), dù cũng cùng điều kiện tương tự về thời chiến, cũng phân chia hai quốc gia trong cùng một nước và sự can thiệp quy mô lớn của quân đội nước ngoài. Thật vậy, tận dụng chương trình nhập khẩu lớn từ Hoa kỳ, Nam Việt Nam đã có thể kiềm chế lạm phát ở mức tương đối vừa phải. Ngược lại, do chỉ có nhập khẩu hạn chế, Hàn Quốc đã trải qua kinh nghiệm lạm phát phi mã nghiêm trọng hơn.

  

•           Tính chất tâm lý thời chiến đặc biệt của vận tốc lưu chuyển khối tiền tệ:

Một quan sát thú vị khác là do một số điều kiện đặc biệt tồn tại trong bối cảnh Việt Nam thời chiến, “kỳ vọng về lạm phát tiếp tục” dường như không trở nên phổ biến. Do đó, chúng không dẫn đến lạm phát phi mã như trong một số trường hợp của Hy Lạp, Israel, Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, trên cơ sở tài chính thời chiến. Mặc dù sự gia tăng của lạm phát trong giai đoạn 1965-75 đã khiến giá vàng và tỷ giá chợ đen của đồng đô la Mỹ tăng nhanh, không có sự hoảng loạn nào xảy ra cho tiền Đồng.

Vận tốc tiền tệ (“velocity of money”) tương đối ổn định là điều đáng ngạc nhiên, mặc dù tỷ lệ lạm phát khá cao của Nam Việt Nam trong những năm đó. Lời giải thích là nhu cầu giữ thanh khoản ở miền Nam Việt Nam. Thật vậy, nhu cầu giữ tiền mặt bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi các nhu cầu giao dịch và phòng hờ chạy loạn hơn là động cơ đầu cơ – lo đồng tiền mất giá vì lạm phát cao.

Do cuộc di tản của hàng triệu người tị nạn chiến tranh từ vùng nông thôn đến các trung tâm đô thị, tâm lý yêu chuộng thanh khoản tăng cao, vì người ta có thể mang theo tiền mặt dễ dàng hơn khi bị buộc phải chạy trốn khỏi vùng chiến nông thôn.

Một lời giải thích khác cho sự ổn định tương đối của vận tốc tiền tệ có lẽ là do niềm tin vào sự hỗ trợ của đồng minh Hoa Kỳ từ phía người dân Nam Việt Nam trong những năm sau 1965, qua việc đổ bộ quân Mỹ ồ ạt vào Đà nẵng.

•           Tác động của chương tri cải cách kinh tế qui mô năm 1970:

Nhưng đáng kể hơn nữa, Chính phủ VNCH đã thực hiện một loạt các biện pháp ổn định kinh tế vào đầu năm 1970, giúp kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh nỗ lực tăng thu ngân sách thông qua việc cải tiến hệ thống thu thuế, các chính sách cải cách đáng kể đã được ban hành trong lĩnh vực lãi suất, tỷ giá hối đoái, tự do hóa thương mại và kiểm soát trao đổi như sau:

-Cải cách lãi suất : Ngân hàng trung ương đã tăng trần lãi suất tiền gửi từ 4% lên 12% trong đợt cải cách vào tháng 3 năm 1970; sau đó, đã được đưa lên tới 24% vào tháng 5 năm 1972. Kết quả là, thời gian và tiền gửi tiết kiệm vào các ngân hàng thương mại tăng nhanh, góp phần đáng kể thu hút bớt thanh khoản dư thừa. 

-Chính sách tỷ giá hối đoái: Với sự hỗ trợ đến từ viện trợ Hoa Kỳ và chương trình nhập khẩu, Chính phủ Nam Việt Nam cũng đã tăng các khoản thu quan trọng từ việc lấy lãi xuất chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái được áp dụng cho các giao dịch mua bằng tiền Đồng của Hoa Kỳ và của các nhà nhập khẩu địa phương. Trong một khoảng thời gian, Ngân hàng Quốc gia đã mua tiền Mỹ với tỷ giá 80 Đồng mỗi đô la từ các giao dịch chính thức với nhân viên Hoa Kỳ và bán lại ở mức 118 Đồng mỗi đô la (hoặc tỷ giá cao hơn trong các giai đoạn tiếp theo) cho các nhà nhập khẩu, số tiền tích lũy cho chính phủ là 38 đồng/đô la như một hình thức thu thuế.

-Tự do hóa thương mại: Những thay đổi này đã rút ngắn danh sách hàng nhập khẩu bị cấm, bãi bỏ hệ thống thuế quan cũ và thay thế bằng cách phân loại đơn giản các mặt hàng nhập khẩu và thuế suất, làm giảm trốn thuế cũng như các vấn đề về thủ tục hành chính (“red tape”) và tham nhũng. Những biện pháp này có xu hướng tăng cạnh tranh giữa các nhà nhập khẩu. Mặc dù đến muộn, các biện pháp này đều theo hướng cần thiết của cuộc cải cách chính sách lớn năm 1970, kéo dài hiệu quả cho đến năm 1975.

.        

Như nhiều quan sát viên đã lưu ý, những biện pháp ổn định quan trọng này đã quá hạn chờ. Mặc dù lạm phát là không thể tránh khỏi trong những năm đầu của cuộc chiến leo thang, nhưng đã không có hành động kịp thời cho đến năm 1970, lúc chính phủ Việt Nam Cộng Hoà phải hành động quyết liệt do nhu cầu tình thế để hỗ trợ cho chương trình Việt Nam hóa chiến tranh (“Vietnamization”), trước việc rút quân của quân đội Hoa Kỳ vào cuối năm 1972 và ký Hiệp ước đình chiến Paris vào tháng giêng năm 1973, sau cùng dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam vào tháng 4/1975./.

 

TS. Phạm Đỗ Chí



Nội các của Biden sẽ trở thành văn phòng chi nhánh của ĐCSTQ tại Mỹ?

 Nội các của Biden sẽ trở thành văn phòng chi nhánh của ĐCSTQ tại Mỹ?

Ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ Joe Biden. (Ảnh qua Natural News)

Một nhiệm kỳ tổng thống của Joe Biden sẽ giống như “ước mơ biến thành hiện thực” đối với chính quyền Cộng sản Trung Quốc, một cơ hội lớn mà họ chưa bao giờ dám tưởng tượng.

Không chỉ Joe Biden và con trai của ông ta – Hunter Biden, bị Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) “dắt mũi”, mà cả những người mà Biden đang lựa chọn để đảm nhiệm các vai trò trong Nội các đều là những người ủng hộ Bắc Kinh.

Tổng thống Donald Trump là người cứng rắn với Trung Quốc hơn bất kỳ tổng thống nào trong lịch sử đương đại. Đó chính là lý do Bắc Kinh lôi kéo Joe Biden bằng mọi giá để đánh bại lãnh đạo Nhà Trắng.

Điển hình như việc Biden đã chọn sinh vật đầm lầy ở Washington – Anthony Blinken làm ngoại trưởng của mình và theo chuyên gia cộng đồng tình báo Hoa Kỳ Charles “Sam” Faddis, đó là một tin tốt cho chính quyền Cộng sản Trung Quốc. Viết trên AND Magazine do chính mình thành lập, ông Faddis cho biết:

Biden tuyên bố rằng Blinken sẽ đóng vai trò là nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ và đại diện cho lợi ích của chúng ta với thế giới. Tuy nhiên, bạn đang hoàn toàn hiểu sai tình hình. Là Giám đốc của Trung tâm Penn Biden Center, Blinken không chủ trì một cơ quan nào đó có nhiệm vụ giáo dục người Mỹ và giúp họ hiểu thế giới xung quanh chúng ta. Ông ta chủ trì một tổ chức được người Trung Quốc tài trợ với quy mô lớn và dường như được dành chủ yếu để thúc đẩy tuyên truyền của Trung Quốc từ bên trong Hoa Kỳ.

Trung tâm Penn Biden Center kết nối với Bắc Kinh như thế nào? Tương tự như cách mà Joe và Hunter Biden được cho là đã làm – tiền.

Faddis lưu ý rằng trong những năm gần đây, trung tâm này đã nhận được hơn 70 triệu USD từ các nhà tài trợ ở Trung Quốc. Và cho đến khi trung tâm được hỏi về những khoản đóng góp đó, họ đã không báo cáo bất kỳ khoản nào trong số đó mặc cho luật pháp yêu cầu. Trên thực tế, Faddis cho biết, hơn 20 triệu USD trong số các khoản quyên góp đó vẫn đang được phân loại là đến từ các nguồn ẩn danh của Trung Quốc. Vào tháng 5/2018, chỉ riêng một khoản quyên góp đã là 14,5 triệu USD.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thực thi một hình thái cộng sản kỳ lạ; nó giống như chủ nghĩa Cộng sản tư bản, nơi tiền được phép được tạo ra (và rất nhiều trong số đó được tạo ra bởi giới chóp bu trong xã hội Trung Quốc) trong khi người dân bị cai trị bằng nắm đấm sắt.

“Không có gì ngạc nhiên khi Trung tâm Penn Biden Center hoàn toàn tránh xa bất kỳ chủ đề nào có thể làm mất lòng người Trung Quốc và trên thực tế, tập trung phần lớn sự chú ý vào các chủ đề và chủ đề phù hợp với tuyên truyền của ĐCSTQ trên toàn thế giới,” Faddis viết.

Trong khi đó, các phương tiện truyền thông chính thống và đảng Dân chủ đã dành phần lớn nhiệm kỳ của Tổng thống Trump để cố gắng nói lên mối đe dọa từ Nga và liên kết ông với Tổng thống Nga Vladimir Putin, người thực chất điều hành một đất nước mà một số người ví như một trạm xăng với vũ khí hạt nhân .

Cho đến nay, Trung Quốc vẫn luôn là mối đe dọa lớn nhất của Mỹ. Và chính quyền mới nổi của Biden sẽ phục tùng Bắc Kinh.

Nhưng đó không chỉ là Blinken ủng hộ Trung Quốc mà chúng ta phải quan tâm. Bắc Kinh đang lên tiếng chấp thuận Tướng quân đội Hoa Kỳ đã nghỉ hưu Lloyd Austin, người được Biden chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng. Newsweek đưa tin rằng Bắc Kinh đã có phản ứng tích cực trước việc đề cử vị tướng về hưu ‘hợp lý’.

Tạp chí này đưa tin, Bắc Kinh nhìn thấy một con đường trở lại ổn định cho mối quan hệ Mỹ-Trung, vốn đã căng thẳng nặng nề dưới thời Tổng thống Donald Trump và Ngoại trưởng Mike Pompeo, người cực kỳ phản đối Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Bạn có thấy sự bất hòa về nhận thức được trưng bày ở đây không? Điều duy nhất thúc đẩy tin tức của Newsweek là sự ghét Trump; bài báo không bao giờ bận tâm giải thích lý do tại sao chính quyền Trump và Pompeo nhiệt liệt phản đối ChiComs.

Có thể là do thực tế là cả hai chính quyền Đảng Dân chủ và Cộng hòa gần đây đều xác định Trung Quốc là một mối đe dọa lớn?

Và hãy nhìn xem, bất cứ khi nào Trung Quốc khen một quan chức Mỹ, quân đội Bắc Kinh sẽ phải đối phó, đó không phải là một điều tốt.

Blinken chỉ là người đầu tiên trong số những gì nó xuất hiện sẽ là một Nội các đầy tay sai của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đây không phải là những người Mỹ yêu nước khôn ngoan theo đường lối của ĐCSTQ và quyết tâm bảo vệ chúng ta khỏi chúng, Faddis viết. Ngược lại, đây là những người đàn ông và phụ nữ hoàn toàn ủng hộ tham vọng của Trung Quốc trong việc thay thế Hoa Kỳ trở thành cường quốc thống trị trên toàn cầu.

Thiện Thành






Tự Do Báo Chí Dưới Thời Tổng Thống Trump

 Tự Do Báo Chí Dưới Thời Tổng Thống Trump


Chúng ta thường nghe nói: “Người dân được làm tất cả những gì luật pháp không cấm”, nó có thể đúng ở nhiều nước nhưng không đúng ở Mỹ.

Tổng thống Mỹ có quyền ký sắc lệnh và Quốc Hội Mỹ có quyền ban hành đạo luật, nhưng người dân có quyền thách thức mọi sắc lệnh và đạo luật để luật pháp phải luôn trong vòng Hiến Pháp cho phép.

Tu chính án thứ nhất của Hiến Pháp Mỹ nêu rõ: “Quốc hội không được quyền ra luật… ngăn cản tự do ngôn luận, tự do báo chí, hoặc ngăn cản hội họp ôn hòa, hoặc cấm đoán người dân khiếu nại về việc làm của chính phủ.”

Khái niệm đã thế nên một bài viết ngắn không thể đi sâu vào chi tiết của từng vấn đề, tôi chỉ xin đưa ra một bức tranh tổng quát để có thể hình dung được quyền tự do báo chí tại Mỹ.

Quyền Lực Thứ Tư…

Phán quyết liên quan đến hai tờ the New York Times và the Washington Post khi họ cho đăng những tài liệu tối mật của Bộ Quốc Phòng Mỹ về chiến tranh Việt Nam (Pentagon Papers) có thể xem là phán quyết cốt lõi của quyền tự do báo chí tại Mỹ.

Các tài liệu tối mật này cho thấy nhiều đời Tổng thống Mỹ, từ 1945 đến 1967, đặc biệt là hai ông Kennedy và ông Johnson, đã lừa dối Quốc hội, công chúng và các nước đồng minh về nguyên nhân chiến tranh và khả năng Mỹ chiến thắng tại Việt Nam.



Các tài liệu này được một người làm việc trong nhóm nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, ông Daniel Elisberg sao chép và vào năm 1971 đã giao cho hai tờ báo nói trên.

Các tài liệu này không liên quan đến thời kỳ của Tổng thống Nixon, nhưng đang thời chiến tranh, việc phổ biến tài liệu mật được đánh giá có lợi cho phía đối phương, nên Chính phủ Nixon đã ra lệnh cho hai tờ báo phải ngừng đăng.

Tờ the Washington Post không đồng ý đã kiện lên Tối Cao Pháp Viện và thắng kiện với ý kiến các thẩm phán như sau:

“(Theo Tu chính án thứ nhất) các bậc tiền nhân lập quốc đã trao cho chúng ta quyền tự do báo chí. Quyền mà báo chí cần phải có để có thể thực thi vai trò căn bản về truyền thông trong nền dân chủ của chúng ta, báo chí là để phục vụ cho việc quản trị quốc gia, không phải để phục vụ cho nhà cầm quyền”.

Bởi vậy báo chí Mỹ được xem là quyền lực thứ tư nhằm kiểm soát và cân bằng quyền lực của hành pháp, lập pháp và tư pháp.

Tự Do Và Cạnh Tranh

Ở Mỹ cứ 2 người thì có 1 người công khai ghi danh với một đảng chính trị, bởi thế các cơ quan truyền thông tư nhân Mỹ thường phục vụ những khách hàng có chung một khuynh hướng chính trị.

Mỗi tờ báo lại phục vụ nhu cầu của khách hàng một cách khác nhau, nên cùng một tin tức nhưng hai tờ báo có thể đưa tin hai cách khác nhau, chưa kể chủ đích và quan điểm chính trị mỗi tờ báo mỗi khác.

Chính phủ Mỹ không có cơ quan truyền thông riêng, Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ và Đài Á Châu Tự Do là hai cơ quan truyền thông nhận ngân sách từ chính phủ, nhưng mục đích là phục vụ người ngoại quốc, không phải là phục cụ những người sống ở Mỹ.

Tin xấu về chính phủ mới thực sự là tin, ước tính trên 90% tin về Tổng thống Trump là tin xấu hay được diễn tả một cách không tốt về ông, nhưng không riêng gì ông Trump mà các Tổng thống trước đây cũng cùng chung hoàn cảnh.

Cách đưa tin chọn lọc như vậy không phải chỉ mới xảy ra dưới thời ông Trump, như Mậu Thân 1968 báo chí Mỹ, và ngay cả các sách nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, gần như không đưa tin những cuộc thảm sát do cộng sản gây cho thường dân tại Huế.

Quyền tự do thông tin và cạnh tranh tự do là bản chất của báo chí Mỹ. Hiểu được điều này mới hiểu được tại sao có hiện tượng một bên quy kết cho bên kia là “cuồng” hay “cuồng chống”.



Những điều mà một phía không biết hay không muốn biết tới đều dễ dàng bị cho là tin giả.

Một bên cho rằng tất cả những tố cáo gian lận bầu cử đều là tin giả, còn bên kia suốt 4 năm trời liên tục đưa tin ông Trump đã thông đồng với Nga đánh cắp ghế Tổng thống của bà Clinton.

Bên nào cũng cho rằng là mình đúng bên kia sai, dựa vào báo chí để chứng minh là nguồn tin mình có được là đúng, rồi cho rằng bên kia không chịu theo dõi thông tin.

Quyền Lực Thứ Năm…

Sang thế kỷ thứ 21, sự bùng nổ của mạng xã hội là nhờ Quốc Hội Mỹ năm 1996 đã ban hành Đạo luật khuôn phép trong Truyền thông (47 U.S.C. § 230).

Theo điều mục 230 thì một trang web là một diễn đàn nơi mà chủ trang web không phải chịu trách nhiệm trước luật pháp, về thông tin của các bên thứ ba đăng tải.

Ông Julian Assange một nhà báo người Úc là người sáng lập WikiLeaks một trang web chuyên loan tải các tài liệu rò rỉ của các chính phủ và các đại công ty.

Trong năm 2010, WikiLeaks đã phổ biến chừng 470,000 tài liệu bí mật về hoạt động quân sự của Mỹ ở Iraq và Afghanistan, và khoảng 250,000 tài liệu bí mật của Bộ Ngoại Giao Mỹ.

Ngày 16/03/2016, WikiLeaks phổ biến trên 30,000 điện thư (emails) và văn bản từ hộp thư cá nhân của bà Hillary Clinton, trong số có 7,570 điện thư khi bà giữ chức Ngoại Trưởng Mỹ.

Nhiều điện thư có liên quan đến Ủy ban Quốc gia Đảng Dân Chủ và chiến dịch tranh cử Tổng thống của bà Clinton.

Ông Trump sử dụng các thông tin do WikiLeaks đưa ra để tấn công bà Clinton, nên nhiều người tin rằng đây là một yếu tố giúp ông Trump thắng cử.

Chính phủ Obama cho rằng WikiLeaks đã có được những điện thư này từ tin tặc làm việc cho tình báo Nga.

Còn Bộ Tư Pháp Mỹ truy tố ông Julian Assange đã vi phạm luật Mỹ (tội gián điệp) vì đã bẻ khóa, đột nhập và phát tán những tài liệu mật.

Ông bị Thụy Điển kiện với cáo buộc tấn công tình dục nên đã trốn vào tòa Đại sứ Ecuador ở London, đến tháng 4/2019 ông rời tòa Đại sứ Ecuador và bị cảnh sát Anh bắt chờ giải giao theo yêu cầu của Mỹ.

Ông Julian Assange nhiều lần thông báo ông và các cộng sự viên WikiLeaks chỉ đưa tin từ bên thứ ba mà không hề bẻ khóa đột nhập vào kho tài liệu của bất cứ quốc gia hay tổ chức nào.

Vừa rồi ông cho công bố một ghi âm điện thoại ông đã báo cho luật sư Cliff Johnson của Bộ Ngoại giao (thời bà Hillary Clinton) biết các tài liệu của Bộ đã bị bên thứ ba lấy cắp đưa lên mạng, trang WikiLeaks tìm thấy và sẽ phổ biến các tài liệu này.

Ông và gia đình ông, các chính trị gia ở Úc và cả Liên hiệp Quốc cũng xin Tổng thống Trump ân xá vì những nguồn tin WikiLeaks loan tải là trung thực và chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận theo điều mục 230 của Mỹ.

Ảnh Hưởng Tin Giả

Mặc dù chỉ phổ biến trên 3,000 tài liệu liên quan đến Việt Nam, nhưng WikiLeaks đã gây được ảnh hưởng khá sâu đậm trong niềm tin của người Việt về “mật ước Thành Đô”.

Ngày 01/12/2010 blogger Kami phổ biến câu chuyện WikiLeaks sẽ công bố một tài liệu mật về Hội Nghị Thành Đô năm 1990 theo tài liệu này đến năm 2020 Việt Nam thành 1 tỉnh tự trị của Trung Hoa.

Bài viết đánh đúng vào tâm lý, tình cảm và niềm tin người Việt về cuộc họp bí mật tổ chức tại Thành Đô ngày 3 và 4/9/1990, đến nay vẫn chưa được hai đảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam công bố nội dung cuộc họp.

Câu chuyện “mật ước Thành Đô” đã nhanh chóng được nhiều người biết tới, bước sang năm 2021 vẫn còn người tin.

Câu chuyện “mật ước Thành Đô” chỉ quanh quẩn trong phạm vi người Việt với nhau, câu chuyện “ông Trump thông đồng với Nga” được cả thế giới biết đến mới được xem là “tin giả” ảnh hưởng nhất từ trước đến nay.

Chính Phủ ông Obama phải cử công tố viên đặc biệt điều tra hơn 3 năm trời vẫn không tìm thấy bằng chứng, rồi Chính Phủ ông Trump lại cử thêm công tố viên đặc biệt khác để điều tra nguồn gốc tạo ra “tin giả” này.




Ông Trump Và Truyền Thông

Trở lại với nước Mỹ, tự do báo chí và truyền thông mạng đã lột trần nhiều góc cạnh của các chính trị gia và hệ thống chính trị Mỹ.

Ông Trump một người làm truyền thông, hiểu tâm lý và tình cảm quần chúng Mỹ, biết khai thác mạng xã hội, lại không bị vướng mắc vào hệ thống chính trị, nên được nhiều người Mỹ ủng hộ khi ông ra tranh cử.

Trong lần tranh cử tổng thống 2016 chỉ bằng Tweeter ông tạo ra nhiều tranh cãi buộc báo chí phải theo dõi đưa tin.

Mấy năm qua ông liên tục cập nhật thông tin gởi đến cử tri qua những tweet ngắn, gọn, đi thẳng vào vấn đề cần thông báo, nên chỉ riêng tài khoản @realDonaldTrump đến nay đã có trên 88.5 triệu người theo dõi.

Ông thường xuyên công kích báo chí và các đại công ty công nghệ Google, Facebook và Tweeter, nên tạo ra nhiều tranh cãi và nhận thức mới về tự do báo chí và truyền thông mạng.

Như ông thẳng thừng tuyên bố truyền thông ảnh hưởng đến bầu cử và chính trị của Mỹ, người ghét ông cũng đồng ý vì như đã nói bên trên việc WikiLeaks phát tán điện thư của bà Clinton đã giúp ông thắng cử.

Còn những người ủng hộ ông Trump thì cho rằng việc báo chí cánh tả dấu nhẹm tin tức về ông Hunter Biden lợi dụng quyền thế Phó Tổng Thống của cha để làm ăn với Trung cộng nhiều người không biết nên mới bầu cho ông Joe Biden.

Thử Thách Của Quyền Tự Do

Mạng xã hội (Internet) là phát minh của Chính phủ Mỹ được đưa ra cho công chúng sử dụng nhằm giúp thế giới ngày càng mở rộng hơn về mọi mặt, nhất là về tự do ngôn luận và thông tin.

Mục đích trên đã không đạt được khi các quốc gia độc tài xây dựng tường lửa chặn người dân nước họ quyền tự do truy cập.

Mục đích trên lệch hướng khi các đại công ty công nghệ mạng, như Google và Facebook vì lợi nhuận kiểm duyệt những thông tin theo lệnh của các quốc gia độc tài và xóa những tài khoản của những người bất đồng chính kiến.

Google, Facebook và Tweeter còn thu thập thông tin người dùng để bán cho bên thứ ba sử dụng, vi phạm về quyền thông tin cá nhân.


Mục đích trên đã hoàn toàn bị đảo ngược khi các đại công ty Google, Facebook, Tweeter kiểm duyệt, chặn thông tin, can thiệp vào bầu cử và chính trị Mỹ.

Trong cuộc bầu cử, Twitter đã sử dụng điều mục 230 nói bên trên để ngăn chặn các bài trên báo The New York Post về các giao dịch kinh doanh của ông Hunter Biden, con trai của ông Joe Biden.

Google, Facebook, Tweeter còn kiểm duyệt và dán nhãn các thông tin mà họ tự đánh giá là sai lạc ngay cả các thông tin do ông Trump đưa ra.

Quyền lực thứ năm lọt vào tay vài đại công ty độc quyền công nghệ đang khuynh đảo thế giới, họ chặn ý kiến của ông Trump thì họ sẽ chặn ý kiến của bất cứ Tổng thống Mỹ, chính trị gia Mỹ hay bất cứ ai mà họ đánh giá là không đáp ứng được quyền lợi của họ.

Đó không phải chỉ còn vi phạm quyền tự do ngôn luận, mà vi phạm quyền tự do chính trị, quyền cao quý nhất mà người Mỹ có được.

Tổng Thống Trump, Quốc Hội và Bộ Tư Pháp đang tìm cách để thay đổi điều mục 230 nhằm bảo vệ quyền tự do ngôn luận và tự do chính trị.

Thời đại Tổng thống Trump là thời kỳ bộc lộ những vấn nạn, những thách thức mà nước Mỹ cần phải vạch trần, phải hiểu rõ và phải giải quyết để bảo vệ tự do cho Mỹ và cho thế giới.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
31/12/2020



Trung Quốc đã thao túng truyền thông Mỹ và thế giới nghiêm trọng như thế nào? (Kỳ 8)

 Trung Quốc đã thao túng truyền thông Mỹ và thế giới nghiêm trọng như thế nào? (Kỳ 8)

Đối với giới lãnh đạo Bắc Kinh, những người coi báo chí là mắt, là tai, là lưỡi và cổ họng của ĐCSTQ, thì truyền thông là thứ vũ khí sắc bén dùng để tấn công bất cứ đối thủ nào “nhăm nhe” đi ngược với lợi ích của nó. Cho dù đó là siêu cường nước Mỹ, hay là Tổng thống quyền lực nhất thế giới: Donald Trump.

Âm mưu thâm độc

Sau Thế vận hội 2008, ĐCSTQ “thất vọng” trước làn sóng chỉ trích của truyền thông thế giới về vấn đề vi phạm nhân quyền, đặc biệt là các cuộc biểu tình ủng hộ Tây Tạng diễn ra trên các chặng rước đuốc vòng quanh thế giới, bất chấp chính quyền Bắc Kinh đổ ra hàng tấn tiền để “tô son trát phấn” đánh bóng hình ảnh. 

Năm 2009, Trung Quốc tuyên bố chi 6,6 tỷ đôla để tăng cường sự hiện diện truyền thông trên toàn cầu. Trong khi bên trong Trung Quốc, báo chí ngày càng bị kiểm soát chặt chẽ, thì ở nước ngoài, ĐCSTQ tìm mọi cách khai thác các lỗ hổng của báo chí tự do để làm lợi thế cho mình. Những gì ĐCSTQ quan tâm là một cuộc chiến bền vững của nó đối với dư luận toàn cầu.

Năm 2009, Trung Quốc tuyên bố chi 6,6 tỷ đôla để tăng cường sự hiện diện truyền thông trên toàn cầu.
Năm 2009, Trung Quốc tuyên bố chi 6,6 tỷ đôla để tăng cường sự hiện diện truyền thông trên toàn cầu. (Ảnh: Getty)

Năm 2020, trong đại dịch virus Vũ Hán, các cơ quan ngôn luận tuyên truyền của ĐCSTQ đã phát động các chiến thuật nhiễu loạn thông tin với mức độ chưa từng thấy. Mục đích là làm bất ổn môi trường thông tin thế giới bằng các tin đồn, giả thuyết không có cơ sở, nhằm tạo ra sự hỗn loạn, khiến cho không một ai, không một quốc gia nào có thể tự tin vạch mặt “kẻ chủ mưu” gây ra đại dịch toàn cầu. 

Năm 2020, trong đại dịch virus Vũ Hán, các cơ quan ngôn luận tuyên truyền của ĐCSTQ đã phát động các chiến thuật nhiễu loạn thông tin với mức độ chưa từng thấy.
Năm 2020, trong đại dịch virus Vũ Hán, các cơ quan ngôn luận tuyên truyền của ĐCSTQ đã phát động các chiến thuật nhiễu loạn thông tin với mức độ chưa từng thấy. (Ảnh: Getty)

Duy chỉ có Tổng thống Donald Trump chỉ đích danh: Virus TRUNG QUỐC. Nghĩa là, nó là sản phẩm của ĐCSTQ. Vậy là, cỗ máy tuyên truyền của ĐCSTQ càng có thêm cớ để tăng tốc. Tất nhiên, cỗ máy này đã được vận hành từ rất lâu…

Tờ New York Times tiếp tay cho ĐCSTQ?

Ngày 5/9/2018, tờ New York Times bất ngờ đăng một bài viết có tiêu đề: I Am Part of the Resistance Inside the Trump Administration (tạm dịch: Tôi là một phần trong phe chống đối trong chính quyền Trump) trong đó bài báo cho biết, một quan chức cấp cao giấu tên trong chính quyền Tổng thống Trump đã viết thư gửi đến tòa báo, cảnh báo về hành vi đạo đức của ông Trump.

Tất nhiên, bức thư nặc danh được đăng trên New York Times chẳng có giá trị về mặt pháp lý, nhưng nó có tác dụng như những “quả mìn” giăng khắp chốn nhằm “cài bẫy” Tổng thống Trump.

Người ta nghi ngờ, lá thư này không phải đến từ Washington mà có xuất xứ tận Bắc Kinh. ĐCSTQ vốn là khách hàng quảng cáo “trung thành” của tờ New York Times khi chễm chệ bỏ tiền mua hẳn một cột báo dành riêng cho mục ChinaWatch (tạm dịch: Dõi theo Trung Quốc). Tiền bạc đối với Bắc Kinh không thành vấn đề, còn truyền thông, hễ bán rẻ tiêu chí Trung thực thì sẽ dễ dàng bị đồng tiền chi phối. 

New York Times bất ngờ đăng một bài báo chứa nội dung thư nặc danh chỉ trích Tổng thống Trump. Tuy vậy, nội dung thư được cho là có nguồn gốc từ Bắc Kinh.
New York Times bất ngờ đăng một bài báo chứa nội dung thư nặc danh chỉ trích Tổng thống Trump. Tuy vậy, nội dung thư được cho là có nguồn gốc từ Bắc Kinh. (Ảnh: Getty)

Bài báo này được New York Times tung ra chả khác gì “giúp” Trung Quốc hạ bệ uy tín Tổng thống Trump vào thời điểm kinh tế Trung Quốc đang liểng xiểng trước những cú đòn thuế quan mà ông tung ra trong cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.

Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung là cuộc xung đột giữa hai nền kinh tế lớn nhất nhì thế giới, nhưng sâu xa đó là cuộc chiến một mất một còn giữa thể chế dân chủ tự do và thể chế độc tài khét tiếng. Lá thư nặc danh là điệu ly kế gián, là chất xúc tác gây chia rẽ và ngờ vực giữa các thành viên cốt cán trong bộ tham mưu của Tổng thống Trump.

Gần 2 năm sau, “lịch sử” tiếp tục lặp lại. Năm 2020, bất cứ quyết định nào của Tổng thống Trump đưa ra trong đại dịch virus Vũ Hán, đều bị truyền thông cánh tả đặc biệt là New York Times, Washington Post, CNBC... mổ xẻ, từ việc ông khuyến nghị người dân Mỹ nên đeo khẩu trang khi ra khỏi nhà cho tới việc ông đề xuất giải pháp trị virus Trung Quốc bằng thuốc sốt rét có dược chất hydroxychloroquine. 

'Hợp sức' với New York Times, Washington Posts cũng liên tục đăng các bài báo tiêu cực về Tổng thống Trump, mục đích cuối cùng là để hạ thấp uy tín của ông.
'Hợp sức' với New York Times, Washington Posts cũng liên tục đăng các bài báo tiêu cực về Tổng thống Trump, mục đích cuối cùng là để hạ thấp uy tín của ông. (Ảnh: Getty)

Như thể thế giới chưa đủ hỗn loạn vì virus Trung Quốc, truyền thông cánh tả đã đẩy sự “điên rồ” lên đến đỉnh điểm khi loan tin về mối “bất hòa” giữa Tổng thống Trump và Tiến sĩ Anthony Fauci. 

Tiến sĩ Anthony Fauci, Giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh Truyền nhiễm Quốc gia là chuyên gia miễn dịch nổi tiếng hàng đầu nước Mỹ, đã tư vấn cho 6 đời tổng thống trong những thời điểm khó khăn, và giờ đây ông đứng đầu đội đặc nhiệm chống virus Trung Quốc tại Nhà Trắng. 

Vì vậy, truyền thông cánh tả “chống Trump” đã được một phen bẽ bàng khi chính tiến sĩ Fauci lên tiếng: “Mặc dù chúng tôi không đồng ý về một số điều, [Trump] luôn lắng nghe. Ông ấy đi theo con đường của riêng mình. Ông ấy có phong cách riêng của mình. Nhưng về những vấn đề thực chất, ông ấy lắng nghe những gì tôi nói”. 

Ngày 1/4, tiến sĩ Fauci nói rằng, ông muốn các phương tiện truyền thông đang “gieo rắc” sự bất hòa phải ngừng tuyên truyền dối trá, bởi “chúng ta có một vấn đề lớn hơn nhiều ở đây. Amen”. Bất chấp nước Mỹ đang lâm nguy vì virus Trung Quốc, bất chấp đội ngũ lãnh đạo Nhà Trắng đang làm việc ngày đêm vì sự an toàn cho người dân Mỹ, truyền thông cánh tả vẫn điên cuồng tạo ra những vở “opera xà phòng” xung quanh Tổng thống Donald Trump. 

Truyền thông cánh tả đưa tin sai lệch nhằm khơi mào mâu thuẫn, cố ý gây chia rẽ Tiến sĩ Anthony Fauci và Tổng thống Trump trong bối cảnh cả nước đang nỗ lực chống lại virus Vũ Hán.
Truyền thông cánh tả đưa tin sai lệch nhằm khơi mào mâu thuẫn, cố ý gây chia rẽ Tiến sĩ Anthony Fauci và Tổng thống Trump trong bối cảnh cả nước đang nỗ lực chống lại virus Vũ Hán. (Ảnh: Getty)

Có thể nói, đây là thời điểm khó khăn nhất mà Tổng thống Trump phải đối mặt trong suốt hơn 3 năm làm ông chủ Nhà Trắng. Kể từ khi ông đắc cử năm 2016, Đảng Dân chủ đã hẳn có một kế hoạch triệt hạ uy tín của Tổng thống, và cùng với sự “hiệp đồng” của truyền thông cánh tả, đi đầu là New York Times và CNN, ông Trump chưa có một ngày bình yên. 

Vì sao, truyền thông cánh tả và các nghị sĩ đảng Dân chủ chống phá Tổng thống Trump ác liệt như vậy? Đơn giản, Donald Trump là vị tổng thống Mỹ duy nhất dám mạnh mẽ đối đầu và trừng phạt ĐCSTQ. 

Donald Trump là vị tổng thống Mỹ duy nhất dám mạnh mẽ đối đầu và trừng phạt ĐCSTQ, và điều đó đã động chạm đến lợi ích của phe cánh tả Mỹ và những người ủng hộ ĐCSTQ.
Donald Trump là vị tổng thống Mỹ duy nhất dám mạnh mẽ đối đầu và trừng phạt ĐCSTQ, và điều đó đã động chạm đến lợi ích của phe cánh tả Mỹ cùng những người ủng hộ ĐCSTQ. (Ảnh: Getty)

Xâm nhập truyền thông của Mỹ và Anh

Tháng 8/2013, trong cuộc họp phổ biến tuyên truyền và tư tưởng được tổ chức lần đầu tiên kể từ khi Tập Cận Bình lên làm Chủ tịch nước, ông ta nói rằng cần phải tìm ra phương cách để kể một “câu chuyện tốt” về Trung Quốc. 

Hơn 1 năm sau, vào tháng 11/2014, Tập Cận Bình tiếp tục yêu cầu phải nâng cao sức mạnh mềm của nước này bằng cách kể những câu chuyện về một Trung Quốc tốt đẹp, và mục Câu chuyện của Trung Quốc phải trở thành một câu chuyện thế giới. 

Năm 2016, khi Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) mở chi nhánh tại London, họ bất ngờ với số ứng viên nộp đơn xin việc: 6.000 người “cạnh tranh” 90 vị trí tuyển dụng.

Đối với đội ngũ tuyển dụng của CCTV, ngay cả nhiệm vụ đơn giản là đọc đơn xin việc cũng phải mất gần 2 tháng. Đối với các nhà báo phương Tây, vốn đang phải đối mặt với nguy cơ cắt giảm nhân sự và tình trạng giảm lương bởi sự suy thoái báo chí, thì Mạng lưới Truyền hình Toàn cầu Trung Quốc (CGTN) mới được thành lập này đã mang đến cho họ một triển vọng công việc và mức lương khá hấp dẫn.  

Với trụ sở hào nhoáng và các studio hiện đại tại Chiswick (phía tây London), CGTN - với tư cách là chi nhánh quốc tế của CCTV chính là “kết quả” của chính sách mở rộng kênh truyền thông của Trung Quốc ra toàn thế giới theo chỉ thị của Tập Cận Bình: Kể một câu chuyện thật hay về Trung Quốc, thực chất là để phục vụ các mục tiêu ý thức hệ của ĐCSTQ. 

Chính quyền Bắc Kinh thúc đẩy truyền thông toàn cầu nhằm kể một câu chuyện thật hay về Trung Quốc, thực chất là để phục vụ các mục tiêu ý thức hệ của ĐCSTQ.
Chính quyền Bắc Kinh thúc đẩy truyền thông toàn cầu nhằm kể một câu chuyện thật hay về Trung Quốc, thực chất là để phục vụ các mục tiêu ý thức hệ của ĐCSTQ. (Ảnh: Getty)

ĐCSTQ đã đưa ra một chiến lược tinh vi nhắm đến độc giả quốc tế và định hình lại môi trường thông tin toàn cầu bằng những khoản tiền khổng lồ: Tài trợ cho các mục quảng cáo, bảo hiểm báo chí và hỗ trợ tích cực cho những “bồi bút” phóng túng. 

Một cách đơn giản nhất, ĐCSTQ đã trả tiền cho các bài tuyên truyền của Trung Quốc xuất hiện trong hàng chục ấn phẩm quốc tế. Tờ báo tiếng Anh của ĐCSTQ là China Daily đã ký hợp đồng với ít nhất 30 tờ báo tên tuổi của Mỹ và Anh, nổi bật trong đó là tờ New York Times, Wall Street Journal, Washington Post và UK Telegraph - để thực hiện các bài chèn từ 4 đến 8 trang được gọi là ChinaWatch xuất hiện đều đặn hàng tháng. 

Thay vì đăng quảng cáo trên phụ trương, Trung Quốc đăng bài viết “trá hình”.  Các tiêu đề của bài báo này kiểu như: “Tây Tạng đã chứng kiến ​​40 năm thành công rực rỡ”, “Tập công bố các biện pháp mở rộng cửa”, và ngạc nhiên hơn cả là tiêu đề “Tập ca ngợi các đảng viên ĐCSTQ”. 

Cho nên không có gì ngạc nhiên khi vào tháng 9 năm ngoái, nhân “kỷ niệm” 43 năm ngày mất của Mao Trạch Đông - kẻ giết người nhiều nhất trong lịch sử nhân loại, tờ New York Times đã cho dựng hẳn một bức vẽ Mao Trạch Đông rộng khoảng 15m ngay trước tòa soạn để “biểu thị” cho sự tưởng nhớ. 

Cho nên cũng không có gì ngạc nhiên khi không ít tờ báo phương Tây trong những năm gần đây thường xuyên có những bài viết ca ngợi Trung Quốc lên tận mây xanh. Đặc biệt New York Times còn tán dương cách xử lý độc tài của ĐCSTQ trong khủng hoảng đại dịch khi so sánh với phản ứng của chính quyền Tổng thống Trump.

New York Times trở thành công cụ tuyên truyền của ĐCSTQ ngay trong nước Mỹ, gây chia rẽ chính trị và đất nước, đồng thời kích động sự thù hận của một nhóm dân chúng đối với tổng thống Trump.
New York Times trở thành công cụ tuyên truyền của ĐCSTQ ngay trong nước Mỹ, gây chia rẽ chính trị và đất nước, đồng thời kích động sự thù hận của một nhóm dân chúng đối với Tổng thống Trump. (Ảnh: Getty)

Mặc dù các bài tuyên truyền của Bắc Kinh thường bị “chê” là vụng về và nhạt nhẽo, nhưng “mưa dầm thấm lâu”, ĐCSTQ không tiếc tiền để đăng những bài báo “vô hồn” như vậy, nhằm định hình vào trí óc người dân phương Tây về thể chế “tốt đẹp” của nó. 

Nếu bạn nghĩ đây chỉ là cuộc chiến nhằm gây ảnh hưởng với truyền thông phương Tây, hòng vẽ lại bản đồ trật tự thông tin toàn cầu, thì nó còn hơn thế nữa. Trên hết, đó là cuộc chiến về ý thức hệ và chính trị - và ĐCSTQ - với quyết tâm tăng cường sức mạnh diễn ngôn để tô vẽ thể chế cộng sản “tốt đẹp”, mục đích là để thôn tính thể chế dân chủ tự do tiến tới thống trị thế giới. 

Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, hai trong số những mục tiêu quan trọng mà ĐCSTQ nhắm tới. Bắc Kinh tích cực “tán tỉnh” các nhà báo phương Tây bằng các tour du lịch xa hoa miễn phí, “dụ dỗ” bằng những lời đường mật tài trợ hoàn toàn các chương trình đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp truyền thông cho các phóng viên nước ngoài. Và điểm số đào tạo của họ cao hay thấp, là thước đo cho mỗi Câu chuyện của Trung Quốc đăng trên các tờ báo nước ngoài. Và đặc biệt, các nhà báo phương Tây được hứa hẹn cơ hội có đặc quyền “tiếp cận” với các quan chức cấp cao ở Trung Nam Hải. 

Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, những nhà vận động hành lang - được trả tiền bởi các tổ chức do ĐCSTQ hậu thuẫn - đang tích cực “nuôi dưỡng” những chính trị gia ủng hộ các luận điệu có lợi cho ĐCSTQ và đưa ra các thông điệp của Bắc Kinh. Mục đích là để tác động đến công chúng thế giới, nhằm thúc đẩy các chính phủ nước ngoài phải thuận theo các chủ trương, chính sách của ĐCSTQ, hoặc nếu chính phủ hay cá nhân nào đi ngược lại quan điểm của Bắc Kinh, sẽ bị chống phá, gây rối và triệt hạ.

ĐCSTQ len lỏi vào các kẽ hở trong hệ thống xã hội dân chủ phương Tây, với quyết tâm tăng cường sức mạnh diễn ngôn để tô vẽ thể chế cộng sản 'tốt đẹp', mục đích cuối cùng là để thôn tính thể chế dân chủ tự do tiến tới thống trị toàn cầu.
ĐCSTQ len lỏi vào các kẽ hở trong hệ thống xã hội dân chủ phương Tây, với quyết tâm tăng cường sức mạnh diễn ngôn để tô vẽ thể chế cộng sản 'tốt đẹp', mục đích cuối cùng là để thôn tính thể chế dân chủ tự do tiến tới thống trị toàn cầu. (Ảnh: Getty)

Vậy nên không có gì ngạc nhiên khi truyền thông cánh tả và Đảng Dân chủ lại chống phá Tổng thống Donald Trump dữ dội đến vậy, và tìm mọi cách để truất phế ông. Một lẽ đơn giản, ông là vị Tổng thống coi “Nước Mỹ trên hết”,  và là người lên án và trừng phạt Bắc Kinh mạnh mẽ nhất. 

Khi CCTV ra mắt trụ sở tại Washington vào năm 2012, có ít nhất 5 cựu phóng viên của BBC nộp đơn xin việc. Một trong số họ, phóng viên Daniel Schweimler cho biết anh ta rất vui khi được làm việc cho CCTV. Nhưng nhiều phóng viên nước ngoài làm việc cho Tân Hoa Xã đã nhận thấy “hậu trường” không hề đơn giản khi làm việc với đối tác Trung Quốc. 

Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn của ĐCSTQ hoạt động phần lớn nhờ ngân sách của nhà nước, nhưng ở nước ngoài, nó thực thi một chính sách tạo ra thu nhập - giống như các hãng tin phương Tây như Associated Press (AP) chẳng hạn - bằng cách bán các câu chuyện cho các tờ báo trên khắp thế giới. Một cựu phóng viên phương Tây từng làm việc cho Tân Hoa Xã khoe khoang: “Câu chuyện của tôi không phải được 1 triệu người xem mà là 100 triệu người”. 

Có điều, bài viết của anh ta đơn giản chỉ được sử dụng để tuyên truyền các chỉ thị mới, hay “giải thích” cho sự thay đổi các chính sách của ĐCSTQ mà thôi. Những dạng bài này chiếm khá nhiều diện tích trên các mặt báo thế giới, với những câu chuyện tẻ nhạt kiểu như: Tập Cận Bình đến thăm và trò chuyện với công nhân tại một nhà máy sản xuất đồ chơi….

Đối mặt với sự suy thoái của báo chí phương Tây và tình trạng cắt giảm nhân sự, thì việc Tân Hoa Xã mở rộng thị trường toàn cầu đã thu hút được một lượng nhân lực có chuyên môn tốt, từ đó vô tình tiếp tay cho luận điệu tuyên truyền của ĐCSTQ. (Ảnh: Getty)

Nhà báo trở thành gián điệp

Một nhà báo phương Tây từng “ngây thơ” mô tả công việc của mình tại Tân Hoa Xã như sau: “Bạn nghĩ nó giống như công việc viết lách sáng tạo. Thực chất, bạn đang kết hợp báo chí với một loại văn bản sáng tạo”. 

Christian Claye Edwards, cựu phóng viên từng làm việc cho Tân Hoa Xã có trụ sở ở Sydney (Úc) trong 4 năm cho biết rằng, mục tiêu của ĐCSTQ rất rõ ràng, nhiệm vụ của phóng viên là thúc đẩy chương trình nghị sự cho họ: “Không có mục tiêu nào rõ ràng hơn ngoài việc xác định các vết nứt, kẽ hở trong hệ thống chính quyền sở tại và khai thác chúng triệt để”.

Nhiệm vụ của anh phóng viên người Úc này là theo dõi và phân tích “bản chất” hỗn loạn trong chính trường nước Úc - nơi đã chứng kiến ​​6 đời thủ tướng ra đi chỉ trong vòng có 8 năm - như một cách làm suy yếu niềm tin vào nền dân chủ tự do. 

Một sự thật là, công việc của phóng viên là thu thập thông tin để viết bài, nhưng một phần công việc của Edwards là tìm cách phát huy “ảnh hưởng” hỗn loạn đó, và “không bao giờ được viết ra, tôi chưa bao giờ nhận được lệnh như vậy”, anh nói.

Christian Claye Edwards, giống như các cựu nhân viên khác từng làm việc cho các kênh truyền thông của ĐCSTQ, cảm thấy rằng phần lớn công việc của anh chỉ là nhằm tăng cường sức mạnh mềm cho Trung Quốc trên trường quốc tế, hoặc “bắn tin” về đường lối nhất quán của ĐCSTQ nhằm kiềm chế các quan chức trong chính phủ nước ngoài manh nha tư tưởng đối lập. 

Mục tiêu của ĐCSTQ rất rõ ràng, nhiệm vụ của phóng viên là xác định các vết nứt, kẽ hở trong hệ thống chính quyền sở tại và khai thác chúng triệt để, phân tích sự 'hỗn loạn' của chúng, từ đó làm xói mòn niềm tin vào một xã hội dân chủ.
Mục tiêu của ĐCSTQ rất rõ ràng, nhiệm vụ của phóng viên là xác định các vết nứt, kẽ hở trong hệ thống chính quyền sở tại và khai thác chúng triệt để, phân tích sự 'hỗn loạn' của chúng, từ đó làm xói mòn niềm tin vào một xã hội dân chủ. (Ảnh: Getty)

Phóng viên Daniel Schweimler từng làm việc cho CCTV ở Nam Mỹ trong 2 năm nhận ra một thực tế cay đắng rằng: “Chúng tôi là những công cụ tuyên truyền “mềm” cho ĐCSTQ. Và chúng tôi không nhận sự can thiệp nào từ Bắc Kinh miễn là Đức Đạt Lai Lạt Ma không bao giờ đến thăm đất nước tôi”.

Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đến thăm Canada vào năm 2012, Mark Bourrie - một nhà báo làm việc cho Tân Hoa Xã có văn phòng đặt tại Ottawa - đã vô tình bị đặt vào vị trí phải “thỏa hiệp”. 

Mark Bourrie nhận được yêu cầu phải tận dụng vị trí phóng viên theo dõi mảng thông tin quốc hội của mình để tham dự cuộc họp báo của Đức Đạt Lai Lạt Ma và “tìm hiểu” câu chuyện xoay quanh cuộc họp kín giữa nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng với thủ tướng Canada khi ấy là ông Stephen Harper. Khi Bourrie hỏi liệu thông tin “khai thác” sẽ được sử dụng để viết bài, thì “ông chủ” CCTV của anh trả lời là: KHÔNG.

Phóng viên Mark Bourrie kể lại rằng: “Ngày hôm đó, chúng tôi cảm thấy rằng chúng tôi là gián điệp”. Ngày hôm đó, từ phòng họp quốc hội trở về văn phòng làm việc, Mark Bourrie xin từ chức. Nhưng không phải ai cũng có quyết định chóng vánh như Mark Bourrie bởi mối lợi mà các hãng truyền thông Trung Quốc mang lại cho họ. 

Tất nhiên câu chuyện của Mark Bourrie không phải là một sự việc bất thường. Ba nguồn tin từng làm việc tại các kênh truyền thông của Trung Quốc nói rằng, đôi khi họ đã viết các báo cáo bí mật mà biết rằng chúng sẽ không được đăng trên mặt báo, và chỉ để phục vụ cho các quan chức cấp cao của ĐCSTQ “nghiền ngẫm”. 

ĐCSTQ chi phối và lợi dụng các phóng viên phương Tây để xâm nhập và lấy những tin tức quan trọng, một mặt dùng cho tuyên truyền còn mặt khác là để phục vụ cho mục đích tình báo.
ĐCSTQ chi phối và lợi dụng các phóng viên phương Tây để xâm nhập và lấy những tin tức quan trọng, một mặt dùng cho tuyên truyền còn mặt khác là để phục vụ cho mục đích tình báo. (Ảnh: Getty)

Phóng viên Christian Claye Edwards - người đã viết một báo cáo như vậy về dự án quy hoạch đô thị của thành phố Adelaide (Úc) - và đây chỉ là báo cáo nghiên cứu cấp thấp nhất được gửi tới Bắc Kinh. Về cơ bản, các phóng viên phương Tây này đã “vô tình” cung cấp thông tin tình báo cấp thấp cho khách hàng, là quan chức của ĐCSTQ.

Mua chuộc 

Nhà báo điều tra Dayo Aiyetan (Nigeria) vẫn nhớ như in cuộc gọi từ một người ẩn danh sau khi anh theo đuổi một cuộc điều tra về vấn đề khai thác gỗ lậu. Aiyetan vừa thành lập trung tâm báo chí điều tra hàng đầu tại Nigeria và đã tiết lộ các doanh nhân Trung Quốc đang khai thác rừng trái phép tại Nigeria. 

Người ẩn danh đã đưa ra một lời đề nghị vô cùng hấp dẫn: Mời Dayo Aiyetan làm phóng viên tại văn phòng mới mở của CGTN với mức lương ít nhất gấp đôi mức hiện tại của anh. Dù vậy, Aiyetan từ chối. Câu chuyện của Dayo Aiyetan là một trong những trường hợp điển hình của hình thức mua chuộc truyền thông mà ĐCSTQ thực hiện tại châu Phi.

Châu Phi, mục tiêu chinh phục truyền thông quốc tế đầu tiên của ĐCSTQ, vốn là một thị trường khá dễ dãi để khuất phục và xâm nhập. Năm 2012, CGTN khánh thành một văn phòng ở Kenya, và ngay lập tức “chiêu dụ” những nhà báo uy tín như Dayo Aiyetan.

Đối với các nhà báo ở châu Phi, CGTN hứa hẹn trả lương hậu hĩnh và tạo “cơ hội” để họ kể câu chuyện về châu Phi cho khán giả toàn cầu, mà không cần phải kể những câu chuyện về phương Tây. 

Đối với các nhà báo ở châu Phi, CGTN hứa hẹn trả lương hậu hĩnh và tạo “cơ hội” để họ kể câu chuyện về châu Phi cho khán giả toàn cầu, mà không cần phải kể những câu chuyện về phương Tây.
Để ngăn chặn những câu chuyện về phương Tây lan tỏa trong cộng đồng người Châu Phi, ĐCSTQ đã mua chuộc các nhà báo và buộc họ ngừng đưa tin, sau đó thiết lập cơ quan truyền thông của mình và tuyên truyền các câu chuyện về Trung Quốc. (Ảnh: Getty)

Vivien Marsh, một học giả tại ĐH Westminster (Anh) chuyên nghiên cứu các bài viết của CGTN Châu Phi tỏ ra nghi ngờ về những lời hứa hẹn như vậy.  Phân tích loạt bài tường thuật của CGTN về dịch Ebola (2014) ở Tây Phi, Vivien Marsh nhận thấy 17% nội dung các bài đưa tin về dịch Ebola đã đề cập đến Trung Quốc, nhấn mạnh vai trò của nước này trong việc hỗ trợ bác sĩ và viện trợ y tế. 

Khác xa với việc “kể câu chuyện của châu Phi”, mục đích của CGTN là nhấn mạnh đến sức mạnh, sự hào phóng và nhân tố “trung tâm” của Trung Quốc đối với các vấn đề toàn cầu. 

Ngoài kênh tiếng Anh, CGTN còn có các kênh tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Ả Rập và tiếng Nga, và đang mở rộng phạm vi trên khắp châu Phi. Từ trụ sở Liên minh châu Phi ở Addis Ababa, cho tới hàng ngàn ngôi làng nghèo ở Rwanda và Ghana, các màn hình tivi được lắp đặt miễn phí dưới sự tài trợ của StarTimes, một công ty truyền thông Trung Quốc có mối quan hệ mật thiết với ĐCSTQ.

Các gói phí của StarTimes kết hợp các kênh Trung Quốc và châu Phi là rẻ nhất, trong khi truy cập vào BBC hoặc al-Jazeera có chi phí cao hơn, và vượt quá khả năng chi trả của hầu hết “thượng đế” châu Phi vốn vẫn còn nghèo khổ. Theo cách này, StarTimes đã mở rộng quyền truy cập cho hơn 10 triệu người trong số 24 triệu thuê bao đăng ký xem truyền hình có bản quyền ở châu Phi. 

Sự ảnh hưởng của truyền thông Trung Quốc đối với các nước châu Phi lớn tới mức tháng 9/2018, Hiệp hội Phát thanh viên Độc lập Ghana đã cảnh báo rằng, nếu StarTimes được phép kiểm soát hạ tầng cơ sở truyền dẫn kỹ thuật số và không gian vệ tinh của Ghana, thì nước này sẽ phải “chuyển giao” hoàn toàn không gian phát sóng của mình cho Trung Quốc kiểm soát. 

Hiệp hội Phát thanh viên Độc lập Ghana cảnh báo nguy cơ mất quyền kiểm soát không gian phát sóng vào tay Trung Quốc. Ảnh: Văn phòng StarTimes Office tại Tanzania.
Hiệp hội Phát thanh viên Độc lập Ghana cảnh báo nguy cơ Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát không gian phát sóng. Ảnh: Văn phòng StarTimes Office ở Tanzania. (Ảnh: Wikipedia/CC BY-SA 4.0)

Núp bóng 

Vào năm 2012, trong một loạt các cuộc họp báo tại Đại hội Nhân dân toàn quốc diễn ra tại Bắc Kinh, các quan chức ĐCSTQ liên tục mời một phụ nữ trẻ người Úc đặt câu hỏi, dù các phóng viên nước ngoài đang tác nghiệp tại Trung Quốc hoàn toàn không quen mặt cô phóng viên này. Cô này gây chú ý vì nói tiếng Trung cực kỳ lưu loát. 

Điều tra cho thấy, người phụ nữ trẻ tên là Andrea Yu, đang làm việc cho công ty truyền thông Global CAMG Media Group, có trụ sở tại Melbourne (Úc). Chủ nhân của công ty này là doanh nhân người Úc gốc Hoa tên là Tommy Jiang. Tuy nhiên, Global CAMG chỉ là cái “vỏ bọc” để che chắn mối quan hệ của công ty với Trung Quốc, khi 60% cổ phần của Global CAMG thuộc công ty có tên là Guoguang Century Media Consultancy có trụ sở tại Bắc Kinh. 

Lắt léo ở chỗ, công ty có cái tên dài ngoằng này lại thuộc sở hữu của Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc (CRI). Global CAMG và Ostar - hai công ty thuộc sở hữu của doanh nhân Tommy Jiang đang điều hành ít nhất 11 đài phát thanh ở Úc, mang nội dung CRI, sản xuất các chương trình có lợi cho Bắc Kinh và rồi bán cho các đài phát thanh khác để nhằm vào cộng đồng cư dân gốc Hoa tại Úc.

Theo một số cách, các đài phát thanh được CRI hậu thuẫn cũng vận hành có vẻ tương tự như Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) do Mỹ điều hành. Nhưng có một điểm khác biệt cơ bản: VOA công khai nhận được sự tài trợ của chính phủ Mỹ, còn CRI đang sử dụng các công ty bình phong để che giấu vai trò của mình. 

Việc sử dụng các đài phát thanh nước ngoài để tuyên truyền nội dung được ĐCSTQ “phê duyệt” là một chiến lược mà ông chủ tịch CRI Wang Gengnian ví von là “mượn thuyền vượt biển lớn”. Năm 2015, Reuters điều tra cho thấy, Global CAMG là một trong ba công ty điều hành một mạng lưới truyền thông bí mật gồm 33 đài phát thanh phát nội dung CRI tại 14 quốc gia. Ba năm sau (2018), mạng lưới này đã phát triển lên thành 58 đài phát thanh tại 35 quốc gia và chỉ riêng tại Mỹ, đã có hơn 30 đài tuyên truyền nội dung của CRI. 

Tất cả những đài phát thanh này phát bằng tiếng Anh, tiếng Trung hoặc tiếng địa phương, cung cấp một chương trình “hỗn độn” gồm tin tức, văn hóa và âm nhạc. Trong đó, các bản tin thường “ca ngợi” sự phát triển kinh tế thần kỳ của Trung Quốc, “lăng xê” những tựu khoa học như chinh phục không gian cùng các chương trình nhân đạo, bao gồm cả công tác cứu trợ động đất ở ngoài Trung Quốc. 

Trong một bài phát biểu của Phó Tổng thống Mike Pence vào năm 2018, ông cho biết rất khó để biết ai đang nghe các đài phát thanh này, và mức độ ảnh hưởng sâu rộng của nội dung truyền bá tới thính giả các nước phương Tây. 

Chi phí khổng lồ

Đối với các hãng tin thế giới, mối lợi béo bở mà Trung Quốc hào phóng chi tiền quảng cáo dài hạn đã khiến họ mờ mắt sẵn sàng bóp méo sự thật, và “hành hạ” te tua bất kỳ ai gây tổn hại đến lợi ích của ĐCSTQ.   

Đối với các nhà báo trên thế giới đang làm việc cho các kênh truyền thông của ĐCSTQ, họ thường được nhận những khoản chế độ đãi ngộ vô cùng hậu hĩnh, và dĩ nhiên khá nhiều cơ hội mới mang đến cho họ.  

Ranh giới mong manh giữa báo chí, công tác tuyên truyền, mức độ gây ảnh hưởng và thu thập thông tin tình báo của Bắc Kinh là mối bận tâm của Nhà Trắng. 

Đối với các hãng tin thế giới, mối lợi béo bở mà Trung Quốc hào phóng chi tiền quảng cáo dài hạn đã khiến họ mờ mắt sẵn sàng bóp méo sự thật, và “hành hạ” te tua bất kỳ ai gây tổn hại đến lợi ích của ĐCSTQ.
Đối với các hãng tin thế giới, mối lợi béo bở mà Trung Quốc hào phóng chi tiền quảng cáo dài hạn đã khiến họ mờ mắt sẵn sàng bóp méo sự thật, và “hành hạ” te tua bất kỳ ai gây tổn hại đến lợi ích của ĐCSTQ. (Ảnh: Getty)

Tháng 9/2018, Hoa Kỳ đã yêu cầu Tân Hoa Xã và CGTN phải đăng ký theo Đạo luật Đăng ký Đại diện Nước ngoài (FARA), trong đó bao gồm bắt buộc các tổ chức đại diện cho lợi ích của quốc gia nước ngoài, các cơ quan truyền thông nước ngoài tại Mỹ phải công khai “thân phận” chủ sở hữu với độc giả Mỹ, cũng như phải kê khai các hoạt động và ngân sách chi tiêu.

Năm 2009, ĐCSTQ chi hơn 6 tỷ đôla cho việc mở rộng truyền thông nhà nước ra toàn cầu thì đến năm 2017, học giả David Shambaugh ước tính rằng, Trung Quốc đã chi tới 10 tỷ đôla mỗi năm cho việc tăng cường sức mạnh mềm của họ. 

Với chính sách bưng bít và dối trá của ĐCSTQ, chúng ta không bao giờ có được thông tin ngân sách minh bạch cụ thể về chi tiêu dành cho các hoạt động tuyên truyền bên ngoài Trung Quốc. Nhưng các dữ liệu đã hé lộ một khoản đầu tư lớn được dành riêng để tăng phạm vi và ảnh hưởng của các  đại diện tại nước ngoài của Trung Quốc.

Các hồ sơ của Tân Hoa Xã và CGTN buộc phải kê khai hằng năm với chính phủ Hoa Kỳ theo đạo luật FARA cho thấy, ngân sách chi tiêu tại Mỹ đã tăng gấp 10 lần trong thập kỷ qua. 

Tương tự, tháng 9/2018, truyền thông Úc đưa tin CGTN đã tham gia vào một chiến dịch quảng cáo trị giá 500 triệu đôla với các bảng quảng cáo có hình kanguru và gấu trúc để thu hút độc giả xem truyền hình cáp. Đồng thời cũng có nguồn tin cho rằng, Tân Hoa Xã đã trả hàng triệu đôla để tăng thêm lượng người theo dõi và gây ảnh hưởng trên Twitter, trớ trêu thay, nền tảng này đang bị chặn ở Trung Quốc.

(Còn tiếp...)

Xuân Trường

Xem thêm: Kỳ 7 & Kỳ 9